Chương 10

815 từ

Một bọc gấm.

Mở ra xem, là một chiếc áo ngoài của nam nhân.

Màu xanh đá, kiểu dáng quan phục.

Ta nhận ra.

Đó là áo bào mùa thu đông của Bùi Diễn Châu.

“Tỷ xem chỗ này.”

Lệnh Nghi lật lớp lót bên trong, chỉ cho ta xem.

Lớp lót và mặt vải gần như cùng màu, nếu không lật ra sẽ không nhìn thấy.

Nhưng nếu sờ kỹ—

Dày hơn ban đầu một lớp.

Có người đã thêm một lớp bông mỏng giữa lớp lót và mặt vải, khâu cực kỳ cẩn thận, toàn bộ mũi kim đều giấu trong đường gấp. Nếu không tháo ra thì hoàn toàn không phát hiện được.

“Tháng trước vào hè, thu dọn y phục mùa đông, nha hoàn tháo ra giặt mới phát hiện.”

Lệnh Nghi nói:

“Chiếc áo này là làm vào mùa đông năm kia. Huynh ấy mặc hai mùa đông, vẫn luôn nói nó đặc biệt ấm, bảo thợ may làm thêm mấy chiếc theo mẫu này, kết quả chẳng chiếc nào tốt bằng chiếc này. Thợ may nói vải giống hệt nhau—huynh ấy nghĩ mãi cũng không hiểu.”

Tay ta đặt trên gối, không động đậy.

Mùa đông năm kia.

Ta nhớ.

Có một lần, Bùi Diễn Châu nói chuyện với mạc liêu trong thư phòng, ta đưa canh bên ngoài cửa, cách khe cửa nghe thấy chàng nói:

“Vết thương cũ vừa vào đông lại tái phát, e là cái vai này sắp hỏng rồi.”

Giọng nói nhẹ như không, giống như đang nói chuyện của người khác.

Ngày hôm sau, ta nhìn thấy lúc chàng cầm bút, tay phải hơi run.

Đêm đó, ta đến phòng kim chỉ mượn một tấm bông mỏng và kim chỉ.

Nhân lúc đêm khuya không có ai, ta lấy chiếc áo bào xanh đá kia từ giá áo xuống.

Tháo lớp lót bên trong, thêm một lớp bông vào, rồi từng mũi từng mũi khâu lại.

Tim đèn được khều ba lần, ta khâu suốt cả đêm.

Trước khi trời sáng lại treo về chỗ cũ, không xê dịch chút nào.

Chàng mặc hai mùa đông.

Chưa từng biết vì sao chiếc áo này ấm hơn những chiếc khác.

“Ca ca ta biết rồi.” Lệnh Nghi nói.

“Ừ.”

“Huynh ấy ôm chiếc áo này, ngồi trong thư phòng suốt một đêm. Sáng hôm sau, thư đồng vào đưa trà, huynh ấy vẫn ngồi đó—áo đặt trên đầu gối, trà không uống, đèn không khêu, nến cháy đến tận đáy.”

Giọng nàng thấp xuống.

“Sau đó huynh ấy sai người đi điều tra—năm năm tỷ ở Bùi gia, rốt cuộc còn làm những gì.”

Tim ta nhảy một cái.

Chỉ một cái.

“Điều tra được gì?”

“Quá nhiều.”

Lệnh Nghi rũ mắt xuống.

“Canh thuốc trong phòng bếp là phương thuốc tỷ phối. Rèm thư phòng là tỷ khâu. Mùa xuân huynh ấy bị dị ứng—là tỷ nói với người làm vườn, chuyển bụi hải đường ngoài cửa sổ thư phòng ra xa ba bước. Lúc huynh ấy ra khỏi thành làm việc, tỷ đến miếu cầu bùa bình an, nhờ thư đồng nhét vào hành lý của huynh ấy. Thư đồng tưởng là nha hoàn nào đó bỏ vào nên không để ý…”

Nàng kể từng việc một, giống như đọc sổ sách.

Mỗi một điều đều là việc ta từng làm.

Mỗi một điều, ta đều tưởng không ai biết.

“Huynh ấy đều điều tra ra rồi.”

Trong sân, tiếng ve kêu chói tai.

“Tỷ tỷ.”

Lệnh Nghi đột nhiên gọi ta.

Không phải “Uẩn Ninh tỷ tỷ”.

Chỉ có một tiếng “tỷ tỷ”.

Như khi còn nhỏ.

“Huynh ấy có phải đã làm sai rồi không?”

Hốc mắt nàng đỏ bừng, giọng run lên.

“Huynh ấy nói tỷ giống mẫu thân tỷ—nhưng rõ ràng tỷ không phải. Tỷ chẳng cầu gì cả. Tỷ làm nhiều chuyện như vậy, một chuyện cũng không để huynh ấy biết… Nếu tỷ thật sự muốn bám víu, vì sao tỷ không để huynh ấy biết? Tỷ mưu cầu điều gì chứ?”

Sống mũi ta cay lên.

Cay một thoáng, rồi lại ép xuống.

“Lệnh Nghi.”

Giọng ta rất nhẹ.

“Ca ca muội không làm sai điều gì. Chàng có phán đoán của chàng, ta có lựa chọn của ta. Chàng cảm thấy ta không sạch sẽ, ta không thể mổ tim ra cho chàng xem. Không tin chính là không tin, giải thích một trăm lần cũng vô dụng.”

Ta đứng dậy, gấp chiếc áo bào xanh đá kia lại, đặt vào bọc, trả cho nàng.

“Mang về đi. Đồ của Bùi gia không nên đặt ở chỗ ta.”

Nàng ôm bọc đồ, đứng dưới cây lựu, khóc đến không nói nên lời.

Sau khi Lệnh Nghi đi, ta ngồi một mình trong phòng bếp, vét sạch tro trong bếp, xếp lại củi, châm lửa.

0%