Vừa nói bà ta vừa liếc mắt nhìn về phía ta.
Ta không tiếp lời.
Ung dung bưng chén uống trà.
Có những việc không cần ta phải ra tay. Những kẻ cơ hội tự khắc sẽ giẫm đạp lên nhau. Việc của ta chỉ là — không ngáng đường bọn họ.
Mười Bốn
An An ở phủ Thừa tướng được một tháng.
Chỉ một tháng ngắn ngủi, con bé đã tăng thêm ba cân.
Trên má đã có chút huyết sắc, không còn xám xịt nhợt nhạt nữa. Đôi mắt vẫn rất to, nhưng không còn là kiểu to của sự cảnh giác, lúc nào cũng chực chờ thu mình lại.
Tri Nhu dẫn con bé chạy nhảy khắp hậu hoa viên, hai người đuổi bắt bướm, mồ hôi nhễ nhại.
Mạnh bá tự tay đóng cho con bé một chiếc xe đẩy nhỏ, đẩy con bé lượn quanh sân, An An ngồi trong xe cười khanh khách.
Thanh Hòa chải tóc cho con bé, búi thành hai cái búi nhỏ xíu, dùng dây đỏ buộc lại, cứ đi là đung đưa.
Một buổi tối, ta đang xem sổ sách dưới ánh đèn — phụ thân giao cho ta mấy cửa hiệu và trang viên đó, dù sao cũng phải tự mình cai quản — An An chạy vào, trèo lên ghế, bò ra bàn nhìn ta.
“Người đang làm gì vậy?”
“Xem sổ sách.”
“Sổ sách là gì?”
“Tức là tính tiền.”
“Ồ.” Con bé ngẫm nghĩ một lúc, “Đường… Ôn dì bảo, con gái không cần học tính tiền.”
Ta bỏ bút xuống.
“Ai nói vậy? Con gái cái gì cũng phải học. Tính tiền, biết chữ, cưỡi ngựa, trồng hoa, thích học cái gì thì học cái đó.”
Nó nghiêng đầu nhìn ta, đôi mắt sáng lấp lánh.
“Vậy… người dạy con nhé?”
“Dạy.”
Con bé cười.
Nụ cười đó rất nhỏ, rất nhẹ, khóe miệng chỉ hơi cong lên một chút. Nhưng khi ta nhìn nụ cười ấy, trong ngực như có thứ gì đó nứt ra một kẽ hở, một dòng chảy nóng hổi tuôn trào.
Ta đưa tay ra, bế con bé lên đùi.
Con bé hơi cứng người lại, rồi từ từ, mang theo sự dè dặt mà tựa sát vào. Trán nhỏ dựa vào ngực ta, đôi bàn tay bé xíu bám lên cánh tay ta.
“Nương.”
Giọng nói cực kỳ nhỏ. Nhỏ đến mức ta tưởng mình nghe nhầm.
“Con nói gì cơ?”
Con bé vùi mặt vào áo ta.
“Nương.”
Lần này ta nghe rõ rồi.
Không phải là “nữ nhân kia”.
Không phải là “nương thân”.
Là “Nương”.
Ta cúi đầu, cằm tì lên đỉnh đầu con bé, nhắm mắt lại.
Không nói lời nào.
Không dám nói.
Sợ vừa mở miệng, giọng nói sẽ vỡ òa.
Mười Lăm
Mùng ba tháng Năm.
Hai ngày trước Tết Đoan Ngọ.
Ta dạy An An viết chữ trong đình nghỉ mát ở hậu hoa viên.
Tư thế cầm bút của con bé vẫn chưa chuẩn, cả bàn tay nắm chặt lấy thân bút, nét chữ viết ra méo xẹo. Nhưng nó viết rất nghiêm túc, đầu lưỡi đẩy môi trên, lông mày cau lại, nắn nót từng nét một.
“Chữ này đọc là gì ạ?” Nó chỉ vào chữ mẫu ta viết trên giấy.
“Đọc là ‘Gia’, nghĩa là nhà.”
“Gia.” Nó lặp lại một lần. Rồi ngẩng đầu nhìn ta, “Nhà hiện tại của chúng ta là ở đây phải không ạ?”
“Phải.”
“Vậy… cha thì sao?”
Ta khựng lại một nhịp.
“Cha ở nhà của cha.”
“Nhà của cha không giống nhà của chúng ta sao?”
“Không giống.”
Con bé cúi đầu xuống, lại tiếp tục viết chữ. Viết được một chữ “Gia”, tuy méo xệch, nhưng nét bút nào ra nét bút nấy, không sai chữ nào.
“Nương.”
“Hửm?”
“Cha có đến thăm con không?”
“… Có.”
“Nương có giận cha không?”
“Không giận nữa.”
“Thật không ạ?”
“Thật.”
Con bé nhìn ta một lúc, rồi lại cúi đầu viết chữ.
“Con phải viết đẹp hơn một chút.” Con bé nói, “Khi nào cha đến sẽ cho cha xem.”
Ta xoa đầu con bé.
Bàn tay nán lại trên đỉnh đầu con bé một lúc.
Bên ngoài đình, hoa dành dành nở trắng một góc. Gió lướt qua, vài cánh hoa trắng muốt rụng xuống, rơi trên mặt nước, chầm chậm xoay tròn.
“Đại tiểu thư.” Thanh Hòa vội vã bước tới, sắc mặt có phần kỳ lạ.
“Có chuyện gì vậy?”
“Bên ngoài cổng —” Nàng ấy hạ giọng, “Cố công tử đến rồi. Còn có… Cố lão phu nhân.”
Tay ta rút khỏi đầu An An.
“Mấy người?”
“Chỉ hai người họ. Không mang tùy tùng. Cố lão phu nhân —” Thanh Hòa ngập ngừng, “Đang quỳ trước cổng.”